СНПЧ на Epson
расширения joomla 3.0
купить ноутбук
время в Киеве

 

argaiv1596

PHẬT KHÔNG CÓ Ở TRONG CHÙA VÀ KHÔNG CÓ Ở TRONG TƯỢNG


(From Mai Bui)

PHẬT KHÔNG CÓ Ở TRONG CHÙA VÀ KHÔNG CÓ Ở TRONG TƯỢNG
Xin được chia xẽ với quý Thiện Hữu Tri Thức phần giáo lý ngắn gọn của Chư Tổ có thể giúp khai ngộ cho hàng Phật Tử tại gia chúng ta. Kính chúc Quý Vị "Thân Tâm thường lạc, sở cầu sở nguyện thành tựu như ý"

CHỮ TÂM QUA LỜI DẠY CHƯ TỔ

1) Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ Huệ Năng có dạy:
"Tâm thông thì thuyết thông".
Hành giả nào thực tâm tu học, không phân biệt tại gia cư sĩ, hay xuất gia tu sĩ, tâm trí thông suốt, đạt được đến đâu, thuyết giảng thông suốt, đến mức độ đó, lợi ích chúng sanh. Ví như trước có học hành nghiêm túc, chân tu thực học, sau đó mới có thể làm thầy chỉ dạy người khác.
* *
2) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy:
"Tâm địa nhược không, tuệ nhựt tự chiếu".
Nghĩa là: Khi tâm địa, hay tâm thức, hoàn toàn trống rỗng, lặng lẽ, lẵng lặng, thanh tịnh, không còn chứa chấp những vọng tâm, vọng tưởng, vọng thức, vọng niệm nào cả, thì trí tuệ bát nhã tự bừng sáng. Cũng như mây đen tan biến hết, tức là phiền não không còn nữa, tâm thức không tịch, thì mặt trời trí tuệ tự chiếu sáng.
Tâm được thanh tịnh thì cảnh vật cũng thanh tịnh, chúng sanh chung quanh cũng được bình yên.
Một căn phòng tăm tối ngàn đời, nhưng chỉ cần bật điện một cái, hay đem vào một ngọn đèn, thì liền sáng tỏ ngay, đâu cần đợi ngàn năm sau nữa, mới chịu sáng lại. Cũng vậy, khi con người chịu mồi ngọn đuốc trí tuệ của mình với ngọn đuốc chánh pháp của chư Phật, chư Tổ, thì ngọn đuốc trí tuệ của mình cũng bừng sáng lên ngay. Giây phút bừng sáng đó, trong thiền tông, gọi là: ngộ đạo.
* * *
3) Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy:
"Tâm cảnh không dính nhau là: giải thoát".
Nghĩa là: Chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trầnđời, trong kinh điển gọi là: kiến văn giác tri, nếu tâm không dính mắc, thì không phiền não. Không phiền não tức là giải thoát. Thật là hết sức đơn giản! Lý lẽ tuy cao siêu vi diệu, nhưng hết sức thực tế. Bất cứ ai cũng có thểlàm được, không cần phải thờ lạy, cúng kiến, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, nghề nghiệp, xuất xứ, học thức, nam nữ, già trẻ, bé lớn, giàu nghèo, sang hèn. Tâm không phan duyên theo cảnh trần là: giải thoát!
* *
4) Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông có dạy:
"Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền".
Nghĩa là: Khi nào đối trước cảnh trần, tâm không còn dính mắc, không khởi bất cứ tâm niệm gì,
trong kinh sách gọi là: vô tâm vô niệm, tức là không còn khởi tâm tham sân si, thản nhiên trước sự thịnh suy, thăng trầm của đời sống, bình thản trước những lời khen tiếng chê, vượt qua được sóng gió của cuộc đời,
tức nhiên tâm sẽ được khinh an, tự tại, đó là: thiền định niết bàn
Con người sống trên đời, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, thường xuyên tiếp xúc với các cảnh trần: hình ảnh,
âm thanh, mùi hương, mùi vị, xúc chạm và ký ức. Khi con người tiếp xúc với các trần cảnh, mà bị dính mắc, tức là: trong tâm khởi niệm thương hay ghét, khen hay chê, ưa thích hay tức giận, đều gọi là: loạn tâm vọng tâm. Không khởi bất cứ tâm niệm nào cả, gọi là: định tâm, hay: tâm thiền định.
Đây chính là cốt tủy, là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy.
* *
5) Chư Tổ có dạy:
"Lục căn tiếp xúc lục trần,
không sanh lục thức, là: giải thoát".
Nghĩa là: Thường ngày, khi sống trong cõi đời này, sáu căn tiếp xúc với sáu trần, mà không sanh tâm dính mắc, không sanh tâm loạn động vì tham sân si, trong kinh sách gọi là: lục thức hay lục tặc, thì chúng ta sẽ được tự tại, giải thoát ngay hiện đời. Mắt trông thấy sắc, tai nghe thấy tiếng, mũi ngửi biết mùi, lưỡi nếm biết vị, nhưng mà đừng khởi niệm thương hay ghét, thích hay không thích, nếu như có khởi niệm rồi thì cũng đừng theo. Như vậy chúng ta đâu có gì gọi là phiền não, khổ đau nữa, tức là được giải thoát.
* *
6) Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất có dạy:
"Tức Tâm thị Phật ",
hay: "Phật tức Tâm, Tâm tức Phật".
Nghĩa là: Tâm của chúng ta chính là Phật, Phật chính là tâm của chúng ta. Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ bất thiện, lợi mình hại người, tức là tam nghiệp không thanh tịnh, tâm Phật ẩn mất. Khi chúng ta hành động, nói năng hay suy nghĩ hiền thiện, lợi mình lợi người,
tức là tam nghiệp thanh tịnh, tâm Phật hiển hiện. Thực là đơn giản!
Vì không chịu học hiểu giáo lý, biết bao nhiêu người gọi là Phật Tử, tại gia hay xuất gia, tin theo đạo Phật, không khác gì ngoại đạo. Ngoại đạo nghĩa là: tuy vẫn thờ tượng Phật, tại gia hay là tại chùa, nhưng vẫn thường ngày ngoài tâm cầu đạo, chỉ biết lo chuyện cúng kiến lễ nghi, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, cầu khẩn van xin, cầu nguyện khấn vái, đủ thứ mọi điều, nhưng không hiểu không biết Phật ở nơi đâu?
Ngoài tâm không có Phật, cầu Phật ngoài tâm, là nghĩa lý gì?
Phật không ở trong chùa, không ở trong các pho tượng, bằng vàng hay bạc, bằng đồng hay cây. Phật không ở trên mây, trên non hay trên núi. Phật không ở dưới suối, dưới sông hay dưới biển.
Chúng ta không cần phải đi đến xứ Ấn Độ xa xôi, hay bất cứ nơiđâu, mới thấy được Phật.
Phật đang ở ngay trong tâm của chúng ta.
Khi thấy người nào vào chùa, van xin cầu khẩn chư Phật ban cho điều này điều kia, chư Tổ thường dạy: Ngươi cõng Phật đi tìm Phật! Nghĩa là: chư Phật đã bỏnhững điều phiền não, chỉ dạy pháp môn tu tập để giải thoát, để thành Phật, chúng ta không chịu tu học, để tự mình thoát ly phiền não khổ đau, trái lại chúng ta van xin cầu khẩn những điều phiền não, chẳng hạn như: tiền tài, danh vọng, ước gì được nấy, nhứt bổn triệu lợi, buôn may bán đắt, thi đâu đậu đó, bình yên vô sự, nhà cao cửa rộng, điều cuối cùng là:
cầu vãng sanh cực lạc quốc!
Cầu không được, khổ là cái chắc!
Cầu bất đắc, tức khổ không sai!
* *
7) Chư Tổ có dạy:
"Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt".
Nghĩa là: Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba không khác, không sai biệt. Trong kinh nhựt tụng có câu: Năng lễ sở lễ tánh không tịch, nghĩa là: Phật và chúng sanh tánh thường rỗng lặng. Tâm của người nào không chất chứa bất cứ hình ảnh của chúng sanh trong ba cõi, sáu đường, hoàn toàn trống rỗng, tĩnh lặng,
tâm người đó chính là tâm Phật.
Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
"Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh",
nghĩa là: tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tâm, chính nghĩa như vậy.
* *
8) Chư Tổ có dạy:
Tam nghiệp hằng thanh tịnh.
Đồng Phật vãng tây phương.
Nghĩa là: Khi nào ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh hoàn toàn, tâm của chúng ta đồng với tâm chư Phật ở tây phương. Biết sống với bản tâm thanh tịnh thường hằng, ngay hiện tại, đó là cảnh giới niết bàn an lạc. Nói một cách khác: khi ba nghiệp chưa thanh tịnh, con người sống đau khổ trong tam giới, khi ba nghiệp hằng thanh tịnh, con người sống an lạc trong niết bàn, như khi Đức Phật còn tại thế, chứ không phải đợi sau khi chết mới vãng sanh tây phương.

Mỗi người đều có một kho tàng tâm thức, chứa đầy những hình ảnh âm thanh từ ngày xưa cho đến bây giờ, những chuyện thị phi phải quấy, những định kiến đúng sai, những người thương kẻ ghét, những lời nói dễ nghe khó nghe, do tam nghiệp thân khẩu ý gây ra, cho nên tâm trạng lúc nào cũng bất an, chưa được thanh tịnh, luôn luôn phiền não khổ đau và trầm luân sanh tử. Nếu phát tâm tu tập, chúng ta phải cố gắng dọn sạch cái kho tàng tâm thức của mình, mới có thể giác ngộ được chân lý, giải thoát khỏi tam giới khổ đau. Kho tàng tâm thức đãđược dọn sạch, trống trơn, trong kinh sách gọi là:
Như Lai Tạng.
* *
9) Chư Tổ cũng có dạy:
"Nội cần khắc niệm chi công".
"Ngoại hoằng bất tranh chi đức".
Nghĩa là: Bên trong tâm, người tu tập cần khắc chế tạp niệm, tức là không theo các tâm niệm hổn tạp,
lăng xăng lộn xộn, đó mới chính thực là: công phu tu tập. Bên ngoài, người tu tập giữ gìn đức độ bằng cách không tranh cãi, nói năng luôn luôn đúng chánh pháp, im lặng cũng luôn luôn đúng chánh pháp.
* *
10) Chư Tổ có dạy:
Tác vô nghĩa sự. Thị cuồng loạn tâm.
Tác hữu nghĩa sự. Thị tỉnh ngộ tâm.
Nghĩa là:
Làm việc vô nghĩa: đem lại phiền não khổ đau, lợi mình hại người. Là tâm cuồng loạn.
Làm việc có nghĩa: đem lại an lạc hạnh phúc, cho mình và cho người. Là tâm tỉnh ngộ.
* * *
Tóm lại, trên cuộc đời này, dù giàu sang hay nghèo khó, dù trí thức hay bình dân, dù nam phụ lão ấu, dù da trắng da đen hay da màu, dù vua chúa hay dân chúng, nói chung, bất cứ người nào cũng có hai thứ bệnh: thân bệnh và tâm bệnh. Đối với thân bệnh, chẳng hạn như đau răng, nhức đầu, sổ mũi, cảm cúm, đau tim gan tì phế thận, con người cần tới khả năng trị bệnh của các vị thầy thuốc, dùđông y hay tây y. Để phòng ngừa thân bệnh, có những phương pháp tập thểdục, những cách dưỡng sinh khoa học, những chế độ ăn uống thích ứng với từng lứa tuổi, và tình trạng sức khỏe cá nhân.
Cònđối với tâm bệnh, chẳng hạn như tâm tham sân si, tâm ganh tị đố kỵ, tâm hơn thua phải quấy, tâm thành kiến cố chấp, tâm lo âu sợ sệt, tâm loạn động bất an, con người cần phải tìm hiểu chánh pháp và áp dụng trong đời sống hằng ngày.
Ngay đến Đức Phật là bậc toàn giác, trí tuệ sáng ngời, phước báu vô biên, vẫn CÓ thân bệnh,
nhưng KHÔNG phiền não và khổ đau, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, trong mọi hoàn cảnh.
Nói một cách khác: Đức Phật không có tâm bệnh. Bất cứ ai sống trên đời này, còn mang thân xác con người, là còn khổ vì thân bệnh, nếu không giác ngộ được chân lý vi diệu nhiệm mầu. Các vị giáo chủ của các tôn giáo cũng có thân bệnh và rồi cũng chết như mọi người mà thôi.
Khiđứng trong một căn phòng, cầm đèn rọi ra bên ngoài, thì mình sẽ thấy rõ, biết rõ cảnh vật bên ngoài, còn bên trong căn phòng thì tối thui. Ngược lại, khi xoay ngọn đèn vào bên trong căn phòng, dĩ nhiên căn phòng sáng tỏ, một cách rõ ràng, con người có thể thấy mọi thứ đồ đạc và đi đứng không bị vấp ngã. Cũng vậy, khi phóng tâm quán sát bên ngoài, con người có thể phê phán người này đúng, người kia sai, chuyện này phải, chuyện kia quấy.
Con người có thể biết chuyện khắp năm châu bốn biển, chuyện thời sự khắp thế giới, chuyện văn chương kim cổ đông tây, muôn sự mọi việc bên ngoài đều biết rõ ràng rành mạch.
Trái lại, chuyện bên trong tâm trí của chính mình thì mù tịt, chẳng biết tí gì cả!
Mình thực sự là ai, chẳng biết!
Mình thực sự đang muốn gì, chẳng biết!
Mình thực sự đang làm thiện hay bất thiện, chẳng biết!
Mình thực sự đang nghĩ thiện hay bất thiện, chẳng biết!
Mình thực sự sống trên đời để làm gì, chẳng biết!
Mình sau này sẽ đi về đâu, nếu vẫn cứ tạo tội tạo nghiệp hằng ngày, chẳng biết!
Chuyện gì thuộc về bên trong, thuộc về nội tâm, chúng ta cũng đều chẳng biết!
Cái tâm ý điên đảo đảo điên, cái vọng tưởng lăng xăng lộn xộn, tạo tội tạo nghiệp này,
là nguyên nhân chính dẫn chúng ta vào vòng sanh tử luân hồi.
Làm sao hàng phục và an trụ được cái tâm ý này chính là trọng tâm của đạo Phật.
Điều quan trọng trong đạo Phật chính là:
Tâm trí có dính mắc hay không dính mắc cảnh trần.
Nếu tâm dính mắc, gọi là: tâm phan duyên, tâm loạn động.
Nếu tâm không dính mắc, chính là: bản tâm thanh tịnh vậy.