СНПЧ на Epson
расширения joomla 3.0
купить ноутбук
время в Киеве

argaiv1596

 

Theo Tiếng Tây Tạng là The Mantra of Namgyalma ( USNISA VIJAYA DHARANI ).
Về tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn Thắng ở Thế kỷ X (Số 1(25)/2004)
Năm 1963, ở Hoa Lư, đã phát hiện được một cột kinh Phật do Đinh Liễn, con Đinh Tiên Hoàng, dựng năm 973. Tác giả bài này đã nghiên cứu cột kinh đó(1). Năm 1964, phát hiện được cột kinh thứ hai, tác giả bài này cũng đã nghiên cứu cột kinh này(2). Năm 1978, lại phát hiện thêm 14 cột kinh tương tự ở Hoa Lư. Trên các cột kinh này đều có khắc bài Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni (Usnisavijaya dharani).Đây là bài chú bằng chữ Hán phiên âm tiếng Phạn. 14 cột kinh nói trên đều không còn nguyên vẹn, nhưng xét những dòng chữ còn lại thì thấy các minh văn tương đối giống nhau.Trong đó, có ba cột còn khá nguyên vẹn, có thể đọc được đầy đủ các dòng chữ. 

Ba cột kinh này khác hai cột được phát hiện năm 1963-1964 một đoạn quan trọng, cho ta nhiều thông tin sử liệu. Đoạn này nằm ngay sau bài Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni nói trên.Đoạn này trên ba cột cũng có những chỗ khác nhau.Tôi gọi bản khắc trên ba cột đó là 3A, 3B và 3C.

Sau đây là nguyên văn đoạn đó mà tôi chép lại từ cột 3A: “Đệ tử Suy thành Thuận Hóa, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực ấp nhất vạn hộ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn, sở vi vong đệ Đại đức Đính Noa Tăng Noa bất vi trung hiếu phục sự thượng phụ cập trưởng huynh, khước hành ác tâm, vi bội nhược ái khoan dung, huynh hư trước tạo thứ sở dĩ tổn hại Đại đức Đính Noa Tăng Noa tính mệnh, Yếu thành gia quốc vĩnh bá môn phong. Cổ ngôn tranh quan bất nhượng vị, tiên hạ thủ vi lương, trí dĩ như tư. Kim nguyện tạo bảo tràng nhất bách tọa, tiến bạt vong đệ cập tiên vong hậu một nhất hạ thoát, miễn cánh chấp tụng. Tiên chúc Đại Thắng Minh hoàng đế, vĩnh bá thiên Nam, hằng an bảo vị”. 

Dịch nghĩa như sau: Đệ tử là Suy thành Thuận Hóa, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư, thực ấp một vạn hộ, Nam Việt vương Đinh Khuông Liễn, vì vong đệ là Đại đức Đính Noa Tăng Noa không làm điều trung hiếu, không thờ cha và anh, lại có lòng ác, trái với sự yêu thương và khoan dung, anh không thể bỏ qua, nên đã làm tổn hại đến tính mệnh của Đại đức Đính Noa Tăng Noa, để trọn vẹn tình nhà nghĩa nước. Lời người xưa rằng đã tranh quan thì không nhường, ra tay trước mới là hay, đến nỗi ra tình hình như vậy. Nay nguyện làm 100 cột kinh để cúng cho vong đệ và những hồn ma của người chết trước đây và sau này, cầu cho tất cả giải thoát, không phải tranh giành kiện tụng.Trước hết là chúc cho Đại Thắng Minh hoàng đế, mãi mãi làm chủ trời Nam, giữ yên ngôi báu.

Ở câu cuối cùng, bản 3B chép: “Tiên chúc Đại Thắng Minh hoàng đế, vĩnh trấn thiên Nam, thứ vi khuông tá dĩ đế”. Nghĩa là: Trước chúc cho Đại Thắng Minh hoàng đế, mãi mãi trấn giữ trời Nam, sau nữa là phụ giúp cho cơ đồ hoàng đế. Còn bản 3C thì chép: “Tiên chúc Đại thắng Minh hoàng đế, vĩnh trấn thiên Nam, thứ vi Khuông Liễn hằng kiên lộc vị”. Nghĩa là: Trước chúc cho Đại Thắng Minh hoàng đế, mãi mãi trấn giữ trời Nam, sau nữa chúc cho Khuông Liễn mãi giữ vững được lộc vị.

Chúng ta biết Đại Thắng Minh hoàng đế là tên hiệu của vua Đinh Tiên Hoàng.Còn Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đặc tiến Kiểm hiệu Thái sư là tước vua Tống ban cho Đinh Liễn năm 973 khi Liễn đi sứ Trung Quốc (xem Tống sử).Theo chức danh trên cột kinh này thì Đinh Liễn còn có thực ấp 1 vạn hộ. Chúng ta đã biết rằng thực ấp là một hình thức ruộng ban cấp vào thời Lý. Như vậy là cột kinh này ta biết thực ấp đã có từ đời Đinh.

Theo ba cột kinh này thì Đinh Khuông Liễn đã làm 100 cột kinh như vậy để cầu cho người em là Đính Noa Tăng Noa đã bị Liễn giết. Người em này, theo sử ta thì được ghi là Hạng Lang. Chúng ta cần chú ý là chữ Đính rất gần với chữ Hạng.

Việc tạo hàng loạt cột kinh khắc Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni ở Hoa Lư có liên hệ với tín ngưỡng kinh tràng Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni trong Mật giáo Trung Quốc.Mật giáo Trung Quốc phổ biến tín ngưỡng cột kinh Phật đỉnh Tôn thắng vào thế kỉ VIII. Thời kỳ này, Phật giáo Trung Quốc đã trải qua giai đoạn Trì Minh giáo (Vidya-yana), bước vào giai đoạn Chân Ngôn giáo (Mantra-yana) với sự phổ biến của kinh Đại Nhật Như Lai và bắt đầu hình thành Mật tông với các Tổ như Thiện Vô Uý (Subhakarasimha), Kim Cương Trí (Vajrabodhi), Bất Không (Amoghavajra).

Trong thời kì này, Phật đỉnh là một loại Phật của Mật giáo bắt đầu được thờ phụng như Đại Phật đỉnh, Phật đỉnh luân vương, Kim luân Phật đỉnh, Xí Thịnh Quang Phật đỉnh. Về tiếu tượng cũng có tượng Phật đỉnh, đó là tượng ngồi Kiết già trên tòa sen, tay trái kết ấn Thiền định, tay phải kết ấn Hàng ma. Các bài kinh và thần chú liên quan đến Phật đỉnh Phật cũng được phiên dịch, tạo thành một loại hành trì gọi là Phật đỉnh pháp.

Trong các kinh về Phật đỉnh thì kinh Phật đỉnh Tôn thắng là đặc biệt quan trọng.Kinh Phật đỉnh Tôn thắng được Phật - đà - ba - lợi (Buddhapala) đem vào Trung Quốc và được dịch năm 687 (Đại tạng kinh q. 19, 349).Theo ý kiến của nhiều người thì kinh này được dịch từ niên hiệu Nghi Phượng (676-679).

Tôn thắng Phật đỉnh tu du già pháp nghi quỹ chép: “Tôn thắng Phật đỉnh, cũng có tên là Trừ chướng Phật đỉnh Luân vương, ngồi Kiết già trên tòa sen, da trắng, hai tay Thiền định, trong tay có hoa sen, trên hoa sen đặt Kim Cương câu. Trong tất cả các Phật đỉnh, Tôn thắng Phật đỉnh có thể trừ được tất cả phiền não nghiệp chướng cho nên gọi là Tôn thắng Phật đỉnh hay là Trừ chướng Phật đỉnh”. Vì vậy, năm Đại Lịch 11 (776) vua Đường là Đại tông đã ra lệnh cho tăng ni trong toàn quốc, trong một tháng phải đọc thuộc kinh Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni.

Từ tín ngưỡng Phật đỉnh Tôn thắng, xuất hiện hình thức sùng bái đặc biệt, đó là tín ngưỡng Tôn thắng kinh tràng, tức các cột kinh khắc bài Đà-la-ni Phật đỉnh Tôn thắng. Trong kinh Tôn thắng Đà-la-ni có viết: “Đem Đà-la-ni viết lên các tràng, để trên núi cao, hay trên nhà cao, các chỗ cao, hoặc trong tháp, các tăng ni, thiện nam tín nữ, thấy các kinh tràng này, hay gần các kinh tràng, hình các kinh tràng dọi vào người, gió thổi bay vào người, hay gió thổi bụi tràng vào người, thì các tội nghiệp sẽ tiêu tan”. Và phổ biến là dựng các cột kinh bằng đá, gọi là các Tôn thắng thạch tràng.Ở Trung Quốc hiện nay, dựa vào các ghi chép, người ta biết được khoảng 70-80 cột kinh. Tuy có nhiều loại khác nhau, nhưng nói chung người ta chia làm hai loại: Loại thứ nhất là cột kinh dựng để cầu phúc, tu công đức cho chúng sinh. Loại thứ hai là dựng cho người chết.Người dựng kinh tràng có thể lấy danh nghĩa cá nhân, tự viện, gia đình hay quốc gia để lập kinh tràng.Còn có cột kinh khắc cả tượng của người đã mất, lại còn có cột kinh có bình đặt xá lợi, ngoài Phật đỉnh Tôn thắng Đà-la-ni còn khắc cả Pháp thân kệ.Những cột kinh này gọi là Xá Lợi tràng.Như cột kinh ở chùa Long Hưng Hàng Châu năm 842.

Trên các kinh tràng có một đoạn tự ghi rõ lí do, tên người lập, gọi là tràng chủ, tên người cùng dựng và tên người viết chữ. Có những cột, số người tham gia xây dựng khá đông.

Như vậy, những cột kinh tìm thấy ở Hoa Lư là biểu hiện một tín ngưỡng của Mật giáo Trung Quốc.ảnh hưởng của nó đã lan đến Triều Tiên. Và với những phát hiện ở Hoa Lư, ta thấy tín ngưỡng này đã phổ biến ở Việt Nam vào thế kỉ X./.
http://www.quangduc.com/vietnam/chuaviet/khanhhoa/chuathienphu/ctp-chutonthang.html

Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni

Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu về Phật Đảnh Tôn Thắng Thần Chú, để chúng ta độ thân nhân từ muôn kiếp của chúng ta.
Bởi lúc Đức Phật Thích ca Mâu Ni sắp nói Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng, thì Thiên Đế Thích Đề-Hoàng cùng Thiện Trụ Thiên Tử cũng như Chư Thiên Tử đến đảnh lễ Phật và thưa thỉnh:

“Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng hay Thiện Trụ Thiên Tử đời trước tu phước chi, mà được hưởng sự vui nơi cõi trời trải qua nhiều thời gian như thế? Lại kiếp xưa tạo ác nhân gì, mà sau khi hết phước phải bảy phen đoạ làm thân cầm thú, ăn những thứ bất tịnh, rồi thọ các sự sự khổ nơi đại địa ngục…?”
Đức Phật liền phóng quang, giảng giải lý do Thiện Trụ có phước được lên cõi Trời, nhưng hết phước vẫn phải đoạ xuống làm súc sanh bảy kiếp, rồi kế tiếp phải xuống địa ngục.
Phạm vi Pháp tu này,không thể nói thật đầy đủ hết.
Đức Phật đã biết Thiên Đế và các Thiên tử sẽ kéo đến hỏi về việc này, nên ngài họp chúng đệ tử và Bồ Tát đến nói:
Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Thần Chú và Ngài đã dạy cho Thiện Trụ Thần Chú Phật Đảnh Tôn-Thắng để thoát nạn đoạ súc sanh và địa ngục
Đức Phật dạy thêm:

“Người trì chú này, khi đến cõi Địa ngục, Ngạ quỷ, Diêm vương mà đọc tụng, thì tất cả tội nhơn nơi đó đều giải thoát, cảnh giới nơi đó đều trống rỗng.Khi đến các cung trời,cung điện của Bồ Tát, các cung điện của Phật đều mở cửa rước người thọ trì Thần chú vào”
Đức Phật còn nói rất nhiều về sự hữu ích của Thần Chú,ở đây chỉ lựa chọn một ít tượng trưng. Đức Phật nói:
1.Nếu muốn cứu độ tội khổ của loài súc sanh nên gia trì chú này vào cát hoặc đất vàng 21 biến, đem rãi trên mình chúng và bốn phương, tội chướng của chúng sẽ tiêu diệt.
2.Nếu có chúng sanh nào muốn được phước đức đầy đủ, muốn cầu tài lộc, bảo vật xứng ý, muốn cứu độ mình và người, kẻ ấy nên khởi lòng lành, mỗi ngày phát nguyện sám-hối, đối trước tượng Phật kiết ấn tụng chú này bảy biến, tâm không tán loạn, mắt nhìn tượng Phật không di động, rồi đem công đức tụng niệm ấy thí cho tất cả chúng sanh.
3.Nếu tác pháp và có tâm làm đúng như thế, quyết định sẽ được như nguyện, tăng phước lộc trong đời hiện tại, và cả những kiếp về sau.
4.Nếu hành-giả ở nơi đạo tràng, mỗi ngày ba thời, mỗi thời tụng chú này 21 biến gia-trì vào chén nước sạch, rồi dùng tâm trân trọng bưng chén nước uống. Làm như thế sẽ tiêu trừ các bệnh, sống lâu trăm tuổi, giải trừ hết mọi oan kết, tiếng nói thanh diệu, biện tài thông suốt, mỗi đời thường được Túc-mạng-thông, nhớ biết rõ ràng đời và kiếp trước của mình.
Đức Phật dạy trì chú để cứu muôn loài cầm thú:
5.Nếu có người tụng chú này một biến vào lỗ tai của bất kỳ một loại cầm thú nào, thì sanh-loại ấy sau khi thọ hết kiếp đó sẽ không còn thọ thân cầm thú nữa, dù có nghiệp nặng sẽ bị đoạ vào trong địa ngục cũng sẽ được thoát ly. 
Đức Phật dạy cách độ tha, cứu chúng sanh bốn loài, tức loài sanh bằng thai như loài người, loài sanh bằng trứng, loài sanh từ nơi ẩm ướt, loài từ biến hoá mà sanh ra:
6.Nếu có kẻ nào bị bệnh trầm trọng, chịu nhiều đau khổ, nghe được Đà-Ra-Ni này, sẽ lìa được bịnh khổ, tội chướng tiêu diệt. Cho đến tất cả chúng sanh trong bốn loài nghe được chú này, đều xa bịnh khổ, lìa thân bào thai, hoá sanh nơi hoa sen, tuỳ theo chỗ mà nhớ biết đời trước, kiếp trước không sai.
Đức Phật dạy cách tự trị bịnh:
7.Nếu tụng 21 biến chân ngôn này gia trì vào tăm xỉa răng, rồi đem dùng, có thể trừ được bịnh đau răng, được được mạn khoẻ, thông minh và trường thọ.
Đối với chúng sanh bị khổ nạn, tội chướng cực nặng, Đức Phật dạy cách tự cứu:
8.Nếu có chúng sanh nào bị khổ nạn, tội chướng cực nặng mà không có ai cứu độ. Kẻ ấy nên chọn ngày trăng sáng, tắm, gội, thay y phục sạch sẽ, thọ Bát Quan trai giới, quì trước tượng Phật tụng Đà-Ra-Ni này 1080 biến, thì tất cả các tội nghiệp, chướng nạn thảy đều tiêu diệt. Kẻ ấy sẽ được thanh tịnh, giải thoát, được môn Tổng-trì Đà-Ra-Ni, biện tài vô ngại.
Đức Phật nói chỉ nghe một âm thanh của Thần chú Phật Đảnh Tôn Thắng cũng được nhiều lợi lạc:
9.Nếu kẻ nào tuy chưa trì tụng, mà chỉ nghe một âm thanh của Đà-Ra-Ni này lọt vào tai, tức liền thành tựu được hột giống của Phật.
Ví như một chút kim cương rớt xuống đất, tất lần lượt xuyên lọt tới nơi bản-tế mới dừng lại, đất tuy dày nhưng không thể làm trở ngại được. Thần chú này cũng thế, khi đã lọt vào tai, liền huân-tập chủng-tử, khiến cho lần lần thành tựu được quả Chánh-đẳng, Chánh-giác, phiền não tuy nặng cũng không thể ngăn che.
Dù cho kẻ ấy có bị đoạ vào trong cõi địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh đi nữa, cũng không bị nghiệp báo làm cho hạt giống đó tiêu mất. Trái lại còn nương nơi sức chú, lần-lượt tiến-tu cho đến khi thành Phật.
10.Nếu có chúng sanh nào một phen nghe được Đà-Ra-Ni này, qua kiếp hiện tại, sẽ không còn bị các tật bịnh, không còn bị các khổ não, cũng không còn thọ thân bào thai, tuỳ theo chỗ sanh mà hoá hiện nơi hoa sen. Từ đó về sau, ngũ-nhãn lần lần thanh tịnh, được Túc-mạng-trí, kiết-sử tiêu trừ, sẽ được chứng quả Vô-thượng đẳng-giác.
Đức phật dạy cách cứu độ thân nhân và mọi người:
11.Nếu có kẻ nào mới chết, hoặc chết đã lâu, có người tụng 21 biến Đà-Ra-Ni này vào một nắm đất hoặc cát, rãi lên thi hài, hoặc rãi lên nắm mộ, kẻ ấy nhứt định sẽ được sanh về mười phương Tịnh-độ.
Như người chết thần thức đã bị đoạ vào địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh, khi đất cát ấy dính vào hài cốt, cũng được thoát khỏi ác thú, sanh lên cõi trời.
Đức Phật dạy cách tự độ để được vãng sanh về cõi Cực-Lạc.
12.Nếu chúng sanh nào mỗi ngày trì tụng thần chú này 21 biến, thì kẻ ấy ưng tiêu được sự cúng dường rộng lớn của tất cả thế gian, sau khi xả báo thân sẽ được sanh về Thế-giới Cực-Lạc của đức Phật A-Di-Đà.
Còn kẻ nào thường tụng niệm chú này ngày, đêm sẽ được tăng thêm thọ mạng, hưởng được mọi sự vui thù thắng, nhiệm mầu, được thọ ký, hào quang cùng ánh sáng nơi thân sẽ chiếu đến tất cả cõi Phật, rốt ráo chứng được Đại-Niết-Bàn.
Đức Phật còn ưu ái, chỉ cách giúp cho chúng sanh gặp lúc làm ăn lỗ lã. Ngài nói:
13.Nếu người nào buôn bán ế ẩm, muốn được khách hàng chiêu cố, nên kết ấn thường tụng chú này 21 biến, an trí tượng Phật nơi chỗ tinh sạch, kín đáo mà cúng dường, tất sẽ toại ý.
Và Đức Phật dạy cách bắt ấn như sau:
Muốn Kiết ấn Phật-Đảnh-Tôn-Thắng nên chắp 2 tay lại, 2 ngón trỏ co vào trong lòng bàn tay, 2 ngón cái áp vào lóng giữa ngón trỏ là ấn thành.(xem hình bên dưới).



Khi kiết ấn này tụng chú 108 biến, tức là đã cúng dường thừa sự 88 cu chi hằng hà sa na do tha trăm ngàn chư Phật, được chư Phật khen ngợi, xưng là Phật tử.

Nếu người nào mỗi ngày kiết ấn, tụng chú này 108 biến sẽ được 10 phương chư Phật thọ ký, quyết định không còn nghi. Như mỗi ngày kiết ấn tụng được 1080 biến, kẻ ấy sẽ được thân kim cang bất hoại, mau thành đạo quả.

Sau đây là Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng (21 biến).
Trì tụng xong hồi hướng công-đức cho thân nhân
(kết Ấn, đứng ngay thẳng Trì chú)
1. Namo bagabhàté,
2. Sarvatadran lokiya
3. Pradi vitistraya
4. Buddhaya bagabhàté
5. Tadyatha!
6. Aum! Bhrum bhrum, bhrum
7. Suddhàya, suddhàya.
8. Visuddhàya, visuddhàya.
9. Ásàma, sàma.
10. Samànta bhàvasad.
11. Sabhàrana gati gagàna.
12. Svabhàva visuddhi.
13. A'vicanya dumam.
14. Sarvàtattha gadà.
15. Sùgada.
16. Bhàra bhàcanà.
17. Amirtá pisàku.
18. Maha mudra mandara pana.
19. Aum! Áhara, áhàra.
20. Ayusàn dhàrani.
21. Suddhàya, suddhàya.
22. Gagana svabhàva visuddhi.
23. Usnisà vicaya, visuddhi.
24. Sáhàsara rasami santonité.
25. Sàrava tatthagàda.
26. Avalokini.
27. Sàrvatatthàgada matté
28. Sàtra pàramità.
29. Bari pùrani.
30. Nasà bùmipra dissité.
31. Sàrava tatthagada h'ridhàya.
32. Dissàna.
33. Dissité.
34. Aum! Mùdri mùdri, maha mùdri.
35. Vajra caya.
36. Samhàdanà visuddhi.
37. Sàrava Kama, bhàrana visuddhi.
38. Para durikati biri visuddhi.
39. Pratina varadhàya ayùsuddhi.
40. Samayà dissàna dissité.
41. Aum! Mani mani, maha mani.
42. Ámani, ámani.
43. Vimani, vimani, màha vimani.
44. Matdi matdi, màha matdi.
45. Tatthàda bùddha.
46. Kuthi virisuddhi.
47. Visaphora buddhi visuddhi.
48. Aum! hyhy
49. Jàya jàya
50. Vijàya vijàya.
51. Samara samara.
52. Sabhàra sabhàra.
53. Sàrabhà buddha.
54. Dissana
55. Dissité.
56. Suddhi suddhi.
57. Vàjri vàjri màhàvajri.
58. Ávàjri.
59. Vàjra gabi.
60. Jàya gabi.
61. Vijàya gàbi.
62. Vàjra jvàla gàbi.
63. Vàjro nagaté
64. Vàjro nabhàvé.
65. Vajra sambhàvé.
66. Vàjro vàjrina.
67. Vàjram vabhà dumàmà.
68. Sàriram sàrabhà sattabhànaim.
69. Tàcaya biri visuddhi.
70. S'ya vabhà dumi satna.
71. Sàrabhà gati birisuddhi.
72. Sàrabhà tatthagàda s'yami.
73. Sàma sabhà sadyantu.
74. Sarva tatthagada.
75. Sàma sàbhàsa dissité.
76. Aum! S'diya s'diya
77. Buddhiya buddhiya.
78. Vibuddhiya vibuddhiya.
79. Boddhàya boddhàya.
80. Viboddhàya viboddhàya.
81. Mocaya mocaya.
82. Vimocaya vimocaya.
83. Suddhàya suddhàya.
84. Visuddhàya visuddhàya.
85. Samànta tatbiri mocaya.
86. Samandhàya sami birisudhi
87. Sàrabhà tatthagadà samaya h'ridhàya.
88. Dissàna dissité.
89. Aum! Mudri mùdri maha mudra.
90. Mandàra pana.
91. Dissité.
92. Svàhà

Hồi hướng
Đệ tử con là……………pháp danh…………theo Kinh dạy, con xin hồi hướng công-đức trì tụng Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng này cho Hương linh (X - tên người được hồi hướng), chẳng biết đã thác sanh về cõi nào, xin nguyện cho Hương linh (X) tội báo được tiêu trừ, thoát khổ sanh về cõi lành; từ đó tu tập thêm để được vãng sanh Cực Lạc.

Nam-Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam-Mô A-Di-Đà Phật
(3 lạy)



 

Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu:
Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu có khả năng trừ khử tất cả mọi nghiệp chướng, phiền não, phá tan mọi ác đạo đã gây ra cho chúng sanh vô số khổ ách. Ngài làm cho chúng sanh nhận được sự hộ trì, che chở của chư vị Bồ Tát trong cuộc sống hiện tại và không bị những chướng ngại khổ não bịnh tật. 
Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu âm Phạn văn là Vijaya, mật hiệu là Trừ Ma Kim Cang, lại còn có tên là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trừ Chướng Phật Đảnh. Phật Đảnh, chỉ cho Vô Kiến Đảnh Tướng của Như Lai, người thường không có cách nào hiểu được tướng thù thắng tối thượng ấy. Trong tất cả các Phật đảnh, Tôn Thắng Phật Đảnh có khả năng trừ khử tất cả mọi phiền não nghiệp chướng của chúng sanh, phá tan mọi khổ ách trong ác đạo vì vậy có tên là Tôn Thắng hay Trừ Chướng Phật Đảnh. 
Mặt chính giữa của Ngài Phật Mẫu màu trắng, biểu thị cho sự dẹp yên tai chướng, mặt phải của Ngài màu vàng, biểu thị cho các pháp tăng ích, mặt bên trái của Ngài màu lam, biểu thị pháp hàng phục. Tay nâng Ngài Đại Nhật Như Lai làm Thượng Sư, biểu thị hoài ái: cầm mũi tên, đại biểu sự khơi dậy lòng từ bi của chúng sanh, ấn Thí Vô Úy đại biểu việc dẫn chúng sanh ra khỏi tất cả sự sợ hãi, ấn Thí Nguyện biểu thị sự đáp ứng đầy đủ tất cả tâm nguyện của chúng sanh, cầm cây cung biểu thị cho sự chiến thắng tam giới, trên bàn tay kiết ấn Định nâng bình cam lồ, biểu thị làm cho chúng sanh vô bệnh tật, sống lâu. Chày Kim Cang hình Chữ Thập biểu thị hàng ma, trừ tai chướng để sự nghiệp thành tựu, quyến sách (nghĩa đen: lưới của thế gian, được dụ pháp thâu nhiếp tất cả chúng sanh của chư Phật, Bồ Tát) đại biểu cho việc hàng phục tất cả chúng sanh khó điều phục.
Hình Tượng Tôn Thắng Phật Mẫu
Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu còn có tên là Đảnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu gọi tắt là Tôn Thắng Mẫu. Hình tượng ngài có ba mặt, tám tay. Trên mỗi mặt có ba mắt. 
Ba Mặt
1. Mặt chính giữa màu trắng, khuôn mặt trầm lặng đẹp đẽ. 
2. Mặt phải màu vàng sáng, trong dung mạo mĩm cười vui vẻ. 
3. Mặt bên trái màu xanh lam của hoa sen xanh, nhìn thấy hàm răng hiện tướng hung nộ, thân như trăng sáng mùa thu không gợn một tí mây, mặt như một cô thiếu nữ tuyệt trần. 
Tám Tay
1. Tay phải thứ nhất cầm chày Yết Ma Kim Cang chữ thập bốn màu để trước ngực. 
2. Tay phải thứ nhì nâng Ngài A Di Đà (hay Đại Nhựt Như Lai) ngồi trên toà sen. 
3. Tay phải thứ ba cầm mũi tên. 
4. Tay phải thứ tư kiết ấn Thí nguyện, đặt phía trước đùi chân phải. 
5. Tay trái thứ nhất kết ấn Phẩn Nộ Quyền cầm quyến sách. 
6. Tay trái thứ hai kiết ấn Thí Vô Úy. 
7. Tay trái thứ ba cầm cung. 
8. Tay trái thứ tư kiết Định ấn nâng bình Cam Lồ. 
Căn cứ vào những lời tường thuật trong nghi quỹ, Tôn Thắng Phật Mẫu dùng Ngài Bồ Tát Bạch Sắc Liên Hoa Thủ Quan Âm và Ngài Bồ tát Lam Sắc Tịch Tịnh Kim Cang Thủ làm tả, hữu thị giả, Tứ Đại Thiên Vương làm hộ pháp. Phía đông là Bất Động Minh Vương tay cầm bảo kiếm, phía Nam là Ái Nhiễm Minh Vương tay phải cầm móc sắt, phía Tây là Trì Bổng Minh Vương tay phải cầm gậy màu lam, phía Bắc là Đại Lực Minh Vương tay phải cầm chày Kim Cang. Tất cả bốn Minh Vương thân đều màu lam, tay trái đều kết ấn Phẫn Nộ Quyền để trước ngực. Tóc, lông mi, và râu của bốn vị Minh Vương như hình lửa cháy, hàm răng lớn phẫn nộ nghiến lại. Tất cả đều mặc quần da cọp, đeo rắn làm chuổi hột, hai chân trái thẳng, chân phải cong lại, đứng oai vệ như lực sĩ.
Tôn Thắng Phật Mẫu tâm chú: 
Om. Brum So Ha
Om Amrita Ayuh Dade So Ha
Âm hán Việt: 
Án, A mật lật đô đố bà, bà bà ha.